CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996           CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996                   CHI HỘI THƯƠNG BINH TINH NGHĨA 282 lê lợi Liên hệ: 0313840668-0934563996                   TIN TỔNGHỢP                     GIÃ SỬ                         QUÂNSỰ             HOANG SA                                        Biển Đông       Thế Giới     Tin trong nước      Sử Việt       UFO      Chuyện Lạ      Gia Đình;

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Nghi vấn Ngô Đình Diệm "ái nam ái nữ"


Lại có người cho rằng ông Diệm ái nam ái nữ, nên không có lấy một người vợ và phải sống độc thân cho đến ngày tạ thế.
Trong nhiều năm làm Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũ, giới thân cận của Diệm không ai nghe thấy ông ta dù chỉ một lần nói về chuyện đàn bà con gái.
Cho tới nay, dư luận vẫn cho rằng, Ngô Đình Diệm là một người đàn ông bất lực. Khi nói chuyện với đàn bà, ông Diệm thường tỏ ra đỏ mặt tía tai như e thẹn.

Lại có người cho rằng ông Diệm ái nam ái nữ, tính tình bất thường nên hay cáu gắt và làm những điều không ai lường trước được. Vì vậy, Diệm không có lấy một người vợ và phải sống độc thân cho đến ngày tạ thế.

Theo lời kể của cụ tri phủ Ngọa Thế Cầu làm quan thời Bảo Đại và từng là bạn học thuở nhỏ của Diệm ở Huế cho biết, có một lần vào cuối năm trung học, cậu ấm Ngô Đình Diệm đã cùng với một người bạn trai cùng lớp (có thể là Ngọa Thế Cầu) ra chân cầu Bạch Hổ đứng hóng mát.

Tại đây, Diệm đã tâm sự và tự hứa với bản thân là không bao giờ để chuyện yêu đương, tình ái lăng nhăng trong tâm trí mà dồn tất cả cho việc học ở cấp trung học.
Ông Ngô Đình Diệm.
Ông Ngô Đình Diệm.
Khi còn là sinh viên trường Hậu Bổ, vào một buổi sáng mùa hè, Ngô Đình Diệm đang ngồi đọc sách trên lầu tại nhà bà cả Lễ thì có mấy cô gái Huế đến chơi.

Thời điểm đó, Ngô Đình Diệm chỉ khoảng 18-19 tuổi, cái tuổi đang tân thời, tình cảm tràn trề, lãng mạn. Cứ tưởng cậu ấm cũng thích trêu đùa như những chàng trai tân khác nên các cô gái thuận theo số đông đã mạnh dạn trêu chọc, mồi chài cậu ấm.

Những tưởng các cô gái sẽ bị cậu ấm đùa lại, nhưng trái lại Ngô Đình Diệm bỗng nổi giận, mặt mày cau có đứng trên lầu mà mắng xuống các cô gái: "Con gái gì mà hư thân trắc nết như rứa!".

Cũng từ cái ngày cậu ấm bất thần nổi giận với các cô, người dân ở cả vùng Phú Cam đã rỉ tai nhau việc cậu ấm Ngô Đình Diệm sợ đàn bà con gái.

Sau này khi trở thành tri phủ Hòa Đa, tuần vũ Phan Thiết, Ngô Đình Diệm cũng chẳng đoái hoài gì tới chuyện lập gia thất dù rằng có rất nhiều gia đình quan lại danh giá lên tiếng gả con gái cho ông.

Mãi đến năm 1948, khi Ngô Đình Diệm gần tuổi ngũ tuần, giới thân cận của ông không ai nghe thấy Diệm nói về chuyện đàn bà con gái. Có lẽ do phần vì nể Ngô Đình Diệm cho nên trong những lần trò chuyện với ông không ai dám đề cập tới chuyện vợ con của Diệm.

Còn một số người ưa nịnh bợ mỗi khi gặp ông Diệm chỉ toàn nói chuyện tu hành, đạo đức thánh thiện.

Vì vậy, trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, Ngô Đình Diệm không được thông thạo về lĩnh vực tình ái, phụ nữ, đàn bà.

Rồi dần dần, mỗi khi nhắc tới Ngô Đình Diệm, người thân cũng như cộng sự viên của ông chỉ coi ông như một người đàn ông đứng riêng trong một thế giới không vướng mắc mùi tục lụy.

Sau này, khi trở thành tổng thống của chế độ Sài Gòn cũ cho đến năm 1963, nhiều người lại càng hồ nghi rồi trở nên tin tưởng Ngô Đình Diệm bất thường về sinh lý. Xoay quanh sự việc này, giới tri thức lại đem ra phân tích, giải thích theo sách vở.

Còn giới bình dân thì lại rỉ tai nhau theo những câu chuyện mang tính trào phúng theo kiểu bình dân.

Ngô Đình Nhu (em trai ông Diệm) sau này là cố vấn cho Diệm cũng đã một lần tiết lộ, sau những giờ làm việc căng thẳng, mệt mỏi hay trong sinh hoạt hàng ngày anh em vẫn kháo, nói bông đùa với nhau cho thư giãn đầu óc, thoải mái tinh thần hoặc cho vơi đi nỗi nhớ vợ con.

Tuy nhiên, khi Ngô Đình Diệm vừa đến thì mọi người phải tản ra bắt tay ngay vào làm việc. Bởi Ngô Đình Diệm có thể ngồi nói chuyện liên miên hàng giờ đồng hồ với đủ thứ chuyện trên trời dưới đất nhưng không thích nghe những chuyện đàn bàn con gái mà cánh đàn ông thường bàn luận.

Sau vụ đảo chính hụt vào ngày 11/11/1960, một luật sư của chế độ Việt Nam cộng hòa đã buông lời bình phẩm về Ngô Đình Diệm trong lúc đang ngà ngà hơi men: "Ông cụ (tức Ngô Đình Diệm) thì liệt, ông Nhu coi bộ suy thận, cho nên bà Nhu mới tha hồ tung hoành, khống chế theo cái luật âm thịnh dương suy".
Theo NĐT

Ly kỳ cây sanh 14 tỷ của Ngô Đình Cẩn

Với “thế lạ”, cây sanh trên trăm tuổi của Ngô Đình Cẩn ở Thành Phố Huế đang trở thành một trong những cây cảnh “quý hiếm”
Với “thế lạ”, cây sanh trên trăm tuổi của Ngô Đình Cẩn ở TP Huế đang trở thành một trong những cây cảnh “quý hiếm” được giới bon sai săn lùng. Xung quanh cây sanh lịch sử này, có những câu chuyện bí ẩn, ly kỳ qua lời kể của bà Lê Thị Oanh đang sở hữu “báu vật xanh”.

Đẩy giá lên tới 14 tỷ

Có lẽ ở mảnh đất thần kinh này, khi nhắc đến Ngô Đình Cẩn người ta thường nghĩ đến sự hiện diện của một “bạo chúa” với khu chín Hầm lịch sử, nơi tội ác được ghi dấu với những cảnh đọa đày ngục tù gông cùm giam cầm chiến sĩ bộ đội.

Tuy nhiên ở đây, tác giả lại “hồi tưởng” về Ngô Đình Cẩn qua một “hiện vật sống” là kỷ vật cây sanh bạc tỷ đang được “lưu giữ” tại tư gia ông Lê Đình Sự tọa lạc tại đường Nguyễn Trường Tộ.

Trong một lần vô tình nghe đến cây chuyện Ngô Đình Cẩn, chúng tôi đã nghe tận tai về sử tích, “chiến tích” của cây sanh gắn liền với Ngô Đình Cẩn. Chúng tôi đã liên hệ với một số chuyên gia về cây cảnh và được biết ở Huế độc nhất vô nhị cây sanh của ông Cẩn được nhòm ngó nhiều nhất.
Xung quanh cây sanh kỳ bí của Ngô Đình Cẩn bao bọc bởi lớp đá san hô trông rất kỳ quái
Xung quanh cây sanh kỳ bí của Ngô Đình Cẩn bao bọc bởi lớp đá san hô trông rất kỳ quái
Điển hình nhất là ngay cả giới cây cảnh thủ đô cũng vào Huế lùng sục quyết có được cây sanh quý hiếm mà ông Lê Đình Sự đang sở hữu.

Theo lý giải, chuyện cây sanh của Ngô Đình Cẩn không phải là đề tài mới của giới thượng lưu mà bấy lâu nay, chuyện ông Sự và cây sanh ông Cẩn vẫn là đề tài nóng bỏng cho những câu chuyện lúc trà dư tửu hậu.

Sở dĩ, cây sanh được đẩy giá lên đến trên 14 tỷ bởi tính lịch sử của nó. Mà cây cảnh xưa nay người ta vẫn chú ý đến thân thế và nguồn gốc của cây cảnh mình sở hữu.

Bà Lê Thị Oanh, vợ ông Sự cho biết về đứa con “tinh thần” mà gia đình bà đang sở hữu. Trong ngôi nhà khá cổ kính được hình thành từ trước năm 1975 còn vương màu lịch sử, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng khi nghe bà “thuyết minh’ về nhân chứng sống - cây sanh Ngô Đình Cẩn.

Ngày trước, khi mới nhận căn nhà hiện tại ở đường Nguyễn Trường Tộ này, cây sanh cụ Cẩn đã có từ lâu. Nhân chứng cho biết, ngay cả những người đầu tiên đặt chân đến đây cũng không biết rõ được niên đại thật của cây sanh nay, chỉ truyền miệng với nhau rằng nó đã được trồng từ rất lâu.

Căn nhà bà Oanh đang an cư, trước đây vốn là nhà rường cổ, được mọi người cho biết là nơi thư giãn của ông Ngô Đình Cẩn khi ông còn ở thời ‘vàng son”.

Sau khi thất sủng, căn nhà được giao lại cho vợ chồng ông Sự vì có công trong kháng chiến và dĩ nhiên ông Sự được tiếp quản luôn cây sanh “vô giá’ mà hiện thời mọi người gọi là “sanh vàng”.

Cái thời miếng cơm chật vật, không có của ăn của để, cây sanh lại án ngữ chiếm phần nhiều diện tích trước nhà ông Sự bà Oanh, mọi người ai cũng bảo phá bỏ cây sanh đi mà trồng rau. Tuy nhiên, ông Sự nhất quyết không làm theo vì đó là nhân chứng lịch sử mà ông đã biết là của bạo chúa Ngô Đình Cẩn để lại.
Cây sanh trên 14 tỷ của Ngô Đình Cẩn tại tư gia ông Lê Đình Sự
Cây sanh trên 14 tỷ của Ngô Đình Cẩn tại tư gia ông Lê Đình Sự
Hàng xóm của ông Sự cho hay, ngày trước cây sanh tươi tốt đến mức lũ trẻ ngày nào cũng chạy nhảy leo trèo đùa giỡn trên đó. Trải qua tháng ngày, do sự bào mòn, sự tác động của con người cây sanh quý ngày càng già cỗi và “lịch sử” hơn.

Cây sanh thời nguyên thủy được ông Lê Đình Sự tiếp quản được trồng ở phía trái căn nhà,  trong một khuôn viên bọc toàn đá san hô mang dáng thế kỳ lạ. Quan sát của chúng tôi, cây sanh Ngô Đình Cẩn buông rễ xum xuê được bám vào những tảng đá có thế hàm ếch nhìn như một mê cung huyền bí.

Những chiếc rễ nhỏ như que tăm, màu mốc bạc trắng chứng tỏ tuổi đời già cỗi mà bất cứ dân chơi cây nào cũng đều mơ ước.

Châu báu dưới đế cây sanh?

Người ta còn thêu dệt nên những câu chuyện tưởng chừng như chỉ có trong huyền thoại.

Có người thì cho rằng dưới đáy của cây sanh được dát một lớp xi măng trắng mát lạnh chứa nhiều vật dụng cổ quý hiếm do Ngô Đình Cẩn thời vàng son cất giấu. Có người còn tạo dựng ngay chuyện có châu báu, vàng bạc dưới đấy nên rất thiêng liêng… kỳ bí.

Tuy nhiên, theo gia chủ thuyết lại, dưới đáy cây sanh quả thực đúng là có lát một lớp nền phẳng được kết cấu bao quanh bởi long mạch phun lên từ lòng đất. Không hiểu có nguyên do gì mà ngay cả mùa khô hạn nhất thì trong hồ nuôi cây sanh Ngô Đình Cẩn không bao giờ cạn nước.

Khi bước xuống bể cây này, một dòng nước mát khiến con người có một cảm giác dễ chịu khoan khoái. Còn chuyện châu báu, bạc vàng chỉ là những lời nói không có căn cứ bởi gia đình ông Sự bà Oanh nhiều lần tát cạn đáy hồ mà có bạc vàng đá quý nào đâu?
Cây sanh vàng được bao bọc bởi lưới thép b40 xung quanh.
Cây sanh vàng được bao bọc bởi lưới thép b40 xung quanh.
Quan sát cây sanh, nó có một hình thù ký quái, các rễ cây bám theo thế chằng chịt vây lấy đá mẹ cổ uốn mình giữa những dải san hô hàm ếch khiến những ai lần đầu chiêm ngưỡng cây này đều thốt lên một điều thích thú.

Khi chúng tôi hỏi về gốc tích cây sanh, bà Oanh cho biết, ngay từ thời chuyển vào Huế sau giải phóng, cây sanh đã được hình thành và phát triển tốt tươi. Sau hơn 30 năm, cây sanh bây giờ ít cành lá hơn.

Nghe tin đồn về cây sanh Ngô Đình Cẩn, giới bon sai khắp cả nước kéo về chiêm ngưỡng và thăm dò, trao đổi mua bán. Thậm chí, có nhiều ngày lượng người đến “đấu giá’ cây sanh lên đến gần trăm người.

Biết rằng gia chủ vì quý mến cây sanh, không màng danh lợi vật chất vẫn quyết không bán nhưng giới cây cảnh vẫn làm giá hét lên đến bạc tỷ.

Một số chuyên gia săn cây cảnh còn làm giá đến mức sẵn sàng mua nguyên căn nhà mà vợ chồng ông đang ở bao kèm cây sanh lên đến 14 tỷ đồng.

Không chỉ thế, nhiều người xung quanh còn cho biết, nhiều lần ông còn tỏ ra khó chịu khi hàng chục người kéo đến trả giá, kỳ kèo về ‘đứa con” sống trong gia đình ông Sự.

Chưa có một sự kết luận nào dưới góc độ khoa học nhưng từ khi sỡ hữu canh sanh bạc tỷ này gia đình ông Sự đều mạnh khỏe, ngay cả bà Oanh đã 72 tuổi tròn nhưng vẫn còn hoạt bát, nhanh nhẹn làm được nhiều công việc trong gia đình.

Không giống như những cây sanh quý ở Huế thuộc dòng dõi vua chúa bị các tay chơi cây cảnh ở Hà Nội vào mua với giá trên trời, cây sanh của ông Sự vẫn ngày đêm bám trụ trên dải san hô trong căn nhà xuống cấp trầm trọng. Chính sự “gàn dở’ của chủ nhân khiến cho giá trị cây sanh Ngô Đình Cẩn ngày càng có giá trị.

Truyền cho đời con

Mang câu chuyện về cây sanh trên 14 tỷ đồng đem bàn luận với chuyên gia cây cảnh khá nổi tiếng, ông Trần Viết Huấn, Hội viên hội sinh vật cảnh Việt Nam cho biết, cây sanh Ngô Đình Cẩn rất quý bởi yếu tố lịch sử của nó, nhắc đến cây sanh Ngô Đình Cẩn ai cũng muốn sở hữu nó.

Ông Huấn còn cho biết thêm, một số đại gia Hà Nội còn muốn ông vào nghiên cứu dáng thế, niên đại của cây sanh để định giá chính xác.

Gia chủ cho biết, mặc dù cây sanh giá trị trên 14 tỷ nhưng chưa bao giờ gia đình ông Sự lo lắng về an ninh của cây sanh vàng. Bởi khi ông quyết định không bán với khoản tiền có nằm mơ ông cũng không ngờ tới.

Con gái ông Sự cho hay, ngay từ thời đầu cây sanh xuất hiện đến giờ cây sanh chưa bao giờ có kẻ trộm xuất hiện, an ninh khu vực rất tốt.

Điều khiến rất nhiều người băn khoăn rằng tại sao với kinh tế gia đình ông Sự ở hiện tại lại từ chối mua bán cây sanh trên 14 tỷ đồng. Một khoản tiền mà vợ chồng ông và con cái có thể sống cuộc sống sung sướng.

Đằng này, ông từ chối những lời mời hấp dẫn, những con số giá trị để ngày đêm vẫn bám giữ, chăm chút cây sanh mà không hề lung lay ý chí một ngày nào đó sẽ vì hoàn cảnh vật chất mà bán nó đi.

Được biết, hiện tại, ông Sự đang sống ở căn nhà tại xã Bình Thành, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Một tháng ông về Huế một lần để sinh hoạt Đảng, còn thời gian còn lại ông trồng rau, nuôi cá chạy chợ… kiếm từng đồng bạc.

Bà Oanh cho nói: “Cây sanh gắn bó với gia đình chúng tôi đã từ lâu rồi, chúng tôi xem nó như một phần lịch sử gắn liền với vui buồn gia đình.

Người ta đến hỏi mua nhưng trước sau như một chúng tôi nhất quyết không bán, giàu thì giàu rồi, khó thì khó rồi… sau này nếu hết đời các con tôi sẽ thay ba mẹ nâng niu chăm sóc cây sanh”.
Ngô Đình Cẩn sinh trưởng trong một gia quan lớn trong triều đình ở Huế. Dòng tộc Ngô Đình vốn có gốc gác từ vùng Sơn Tây, sau những đợt Nam tiến mà di dân vào châu Bố Chính, sống ở làng Xuân Dục, nay thuộc xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Ngô Đình Cẩn là một nhân vật chính trị đặc biệt gian ác, khét tiếng tàn bạo, giết người không ghê tay. Tên tuổi lịch sử của ông gắn liền với ngục Chín Hầm – một nơi biệt giam nằm ngoài hệ thống nhà tù của chế độ thực dân, đế quốc từ trước đến nay trên đất nước ta.

Thời còn “vàng son’ ông Ngô Đình Cẩn có thú chơi bon sai, vì vậy, hiện tại có một số tài liệu cho rằng ở Huế vẫn còn một cây cốc hồng độc nhất vô nhị ở Việt Nam cũng thuộc sở hữu của ông Cẩn thời xưa đang ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế.
(Theo Phunutoday)

Thú vui của “bạo chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn

Út Cẩn có cái thú chơi của một anh điền chủ nên thích nhai trầu bỏm bẻm mỗi khi chơi cờ hay đi thăm thú ruộng vườn, vì vậy mà lúc bấy giờ người ta còn gọi Cẩn bằng cái biệt danh khác là “Cậu út trầu”. Về sau này, khi Cẩn nắm quyền cai trị khét tiếng tàn bạo, dã man cực độ nên dân chúng gọi Cẩn là “Bạo chúa miền Trung” hay “Lãnh chúa miền Trung”, hồi đó không bao giờ đám tay chân xu nịnh xung quanh Cẩn dám gọi tên mà thường xưng hô với nhau về Cẩn bằng danh từ “Ông cậu”, mỗi khi có việc gì cần trình báo với Cẩn thì chúng thưa rằng “Bẩm cậu” hoặc là “bẩm ông cố vấn”.
Do có cha từng là quan đại thần triều Nguyễn, nên tuổi thơ của Ngô Đình Cẩn cũng như những người anh em ruột của mình đều được trải qua trong sự giàu sang, nhung lụa. Khác với những người anh em ruột của mình, từ nhỏ Ngô Đình Cẩn cũng được gia đình cho đi học ở trường dòng Pellerin Huế, thế nhưng, vì bản tính nghịch ngợm, ham chơi hơn học nên đến năm lớp 3, Ngô Đình Cẩn bị cái nhọt to bằng nắm tay mọc ngay trên đỉnh đầu gây chảy mủ rất hôi hám nên phải nghỉ học.

“Bạo chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn.
Sau một thời gian chạy chữa, thuốc thang rồi cũng khỏi, tuy nhiên, Ngô Đình Cẩn đã bỏ học luôn để ở nhà rong chơi cùng chúng bạn ngoài đời. Ngô Đình Cẩn nghỉ học được mấy năm thì gia cảnh bắt đầu có phần sa sút vì cha Cẩn – ông Ngô Đình Khả bị triều đình giáng chức và buộc phải về nhà “ngồi chơi xơi nước”.
Bực bội với chính quyền đô hộ thực dân Pháp vô đạo và đám quan lại đương triều, ngày ngày ông Ngô Đình Khả cứ vào ra càm ràm, chửi bới đến nỗi bị vướng vào tâm bệnh rồi qua đời. Hồi ấy, tuy gia cảnh của cha mẹ Cẩn có phần sa sút nhưng trong nhà vẫn còn của ăn của để, ruộng đất còn nhiều, vẫn có người ăn kẻ ở để hầu hạ bà mẹ già (mà người đời lúc đó vẫn thường gọi là mệ Cố) và chăm sóc vườn tược cây trái. Các anh và em Cẩn có người đã thành gia thất, có người đi học tận trời Tây, có người đi làm quan ở vùng đất khác; các chị gái của Cẩn đều cũng đã vu quy về nhà chồng. Chỉ còn lại duy nhất một mình Cẩn sớm tối quanh quẩn bên mẹ già, nên được anh chị em trong gia đình phó thác cho trách nhiệm chăm sóc mẹ, vì lẽ đó mà Cẩn rất được mọi người trong gia đình chiều chuộng, nhẹ lời.

Cây sanh do Ngô Đình Cẩn trồng nay thuộc sở hữu của vợ chồng ông Sự - bà Oanh.
Theo truyền thống thì thường chỉ có người con trai trưởng trong gia đình mới được hưởng tập ấm. Nhưng đối với gia đình ông Ngô Đình Khả có lẽ vì các con lớn đều đã có phẩm hàm riêng với lại không cùng chung sống với gia đình nên chỉ có Ngô Đình Cẩn dẫu rằng không phải là con út trong nhà nhưng vì sinh sống cùng mẹ nên được hưởng sự ưu ái thừa hưởng hương hỏa của cha mẹ.
Ngày còn nhỏ, người ta gọi Cẩn bằng cái tên là Ụt (Theo lý giải của xơ Marie Madeleine Trương Thị Lý (1925) là con gái của bà Ngô Đình Thị Giao (tục gọi là bà Thừa Tùng) và là cháu gọi Cẩn bằng cậu ruột, cũng như lời kể của nhiều giáo dân cao niên sinh sống quanh họ đạo Phủ Cam thì ngày trước trong gia đình ông Khả thường gọi Cẩn là Ụt và gọi cậu út Ngô Đình Luyện là Ịt. Vì cứ gọi bằng tên tục như thế cho nên lâu ngày trại ra từ Ụt thành Út và người ta gọi cậu ấm Ụt Cẩn thành cậu Út Cẩn từ lúc nào chẳng ai hay mà cũng không ai buồn cải chính cho cái tên tục ấy.
Út Cẩn có cái thú chơi của một anh điền chủ nên thích nhai trầu bỏm bẻm mỗi khi chơi cờ hay đi thăm thú ruộng vườn, vì vậy mà lúc bấy giờ người ta còn gọi Cẩn bằng cái biệt danh khác là “Cậu út trầu”. Về sau này, khi Cẩn nắm quyền cai trị khét tiếng tàn bạo, dã man cực độ nên dân chúng gọi Cẩn là “Bạo chúa miền Trung” hay “Lãnh chúa miền Trung”, hồi đó không bao giờ đám tay chân xu nịnh xung quanh Cẩn dám gọi tên mà thường xưng hô với nhau về Cẩn bằng danh từ “Ông cậu”, mỗi khi có việc gì cần trình báo với Cẩn thì chúng thưa rằng “Bẩm cậu” hoặc là “bẩm ông cố vấn”. Chỉ duy nhất anh em trong nội thân gia đình là vẫn thường gọi là Út Cẩn.
Nói về những thú vui tiêu khiển của Cẩn, nhiều giáo dân cao niên sống trong vùng họ đạo Phủ Cam kể rằng: Trong các thú vui, Cẩn mê nhất là câu cá và khả năng câu cá của Cẩn cũng đạt đến độ thượng thừa. Dẫu rằng sau này, khi đã chễm chệ với chức “cố vấn”, giữ ngôi “lãnh chúa miền Trung”, Cẩn vẫn rất mê đi câu cá. Thường thường là “ông cậu” xách cần ra câu ở bến Phủ Cam, đôi khi thay đổi thì xuống câu ở bến An Cựu, hoặc ra sông Hương, có khi về câu ở Tân Mỹ vùng cửa biển Thuận An hoặc ngược lên câu ở khe Châu Ê gần Lăng Khải Định. Mỗi khi “cậu Cẩn” ngồi câu cá, thường là có hai gia nô ngồi hai bên để móc mồi, gỡ cá.
Cứ mỗi lần “ông cậu” giật cá qua bên phải hay bên trái là ngay lập tức gia nô phải gỡ cá, móc mồi cho thật nhanh, chậm chạp là bị Cẩn mắng chửi ngay tắp lự hoặc có khi còn bị đánh đập một cách oan uổng. Cẩn mê câu và rành câu đến mức chỉ cần nhìn tăm nước là đoán biết đường đi của cá và đó là loại cá gì để thả câu. Mỗi lần đi câu như thế, bao giờ Cẩn cũng giáo huấn cho những người đi câu cách móc mồi thế nào cho nhanh, dùng loại mồi nào mà mỗi loại cá thích nhất, khi cá đã cắn câu thì phải giật như thế nào cho chắc ăn…
Ngoài thú đi câu cá, Ngô Đình Cẩn còn có thú chơi đá gà và là một tay chơi gà đá thuộc vào hàng cự phách. Loài gà nào đá hay, giống gà nào lỳ đòn có thể thư hùng được nhiều hiệp đấu, tướng con gà nào khi đá sẽ tung ra đòn hiểm ở hiệp quyết định,… Cẩn đều rất tỏ tường. Nhờ vậy mà những con gà nòi của “cậu Cẩn” thường xuyên giành được thắng lợi trong những trận tỷ thí với những thần kê nức tiếng khác trong vùng.
Cẩn là một con người rất lạ, đã chơi thứ gì là mê thứ đó, khi chơi gà là dành phần lớn thời gian trong ngày để chăm sóc chúng, đem được một con gà hay từ nơi khác về là lăng xăng đi xin nước đái trẻ con cho gà uống, cẩn trọng tự tay nấu nước chè lá để hơ háp cho gà, tắm nắng đúng giờ và trùm màn cho gà trước khi trời tối. Chim chóc cũng thế, trong vườn nhà Cẩn lúc nào cũng líu lo tiếng hót của các loài chim. Con nào hay là được Cẩn treo ngay cây khế trước hiên nhà, bên dưới là bộ phản bằng gỗ quý, sáng sáng, trưa trưa, Cẩn nằm ở đó để đếm từng tiếng gù của chim cu cườm…

Một biệt thự dùng để nghỉ mát của Ngô Đình Cẩn ở thôn Ngũ Tây, Thuỷ An, Tp Huế.
Trong gia đình, Cẩn là đứa con học hành không đến đầu đến đũa so với anh em, nhưng ngược lại Cẩn là người có bẩm tính thông minh, lanh lẹ, có nhiều mánh khóe và tài vặt, nhiều lúc trở nên thủ đoạn theo kiểu của mấy anh lý trưởng thừa hưởng hoa lợi từ ruộng nhà của những người đàn bà góa bụa. Vì vậy mà Cẩn rất tinh quái trong việc cai trị kẻ dưới trướng bằng lời nói và roi vọt. Khi phật ý là Cẩn sẵn sàng chửi cha chúng nó và xem đó như là một thú vui của một con người quyền thế.
Những người từng có dịp gần gũi với gia đình Cẩn đã kể lại rằng, tuy cục cằn, ngoài những thú vui như câu cá, đá gà, nuôi chim kiểng thậm chí là cưỡi bò chạy lông nhông ngoài phố, ông ấy còn rất thích chơi hoa kiểng và bon sai, đặc biệt là việc thiết kế xây dựng những hòn non bộ ở trong vườn nhà. Con người quái đản này cũng dành nhiều thì giờ để nghiên cứu về các loài hoa, có lẽ vì vậy mà Cẩn đã học được tính nhẫn nại mỗi khi chờ xem hoa quỳnh nở hay đứng nhìn lá vàng rơi rụng mỗi độ heo may về. Cẩn mê hoa đến độ biết chọn loại hoa nào phù hợp với vận mạng của mình, biết uốn ép dáng thế cho cây theo chữ tượng hình ra làm sao.
Lúc hứng khởi, Cẩn thường nói với mấy gia nô rằng chơi hoa thì phải biết thưởng thức mùi hương đúng vào thời khắc cánh hoa từ từ hé mở để tận hưởng cái tinh túy ngọt ngào sảng khoái của thiên nhiên theo kiểu trường phái lão Trang của mấy cha bên Tàu. Nói chung, Cẩn là người đam mê rất nhiều trò tiêu khiển, biết bỏ công sắp đặt trong vườn sao cho phù hợp với không gian phong thủy chung quanh nhà, và đương nhiên những gì Cẩn đã mê thì bằng mọi cách phải tìm cho bằng được, thậm chí nếu cần tung chiêu thủ đoạn để chiếm đoạt cho mình Cẩn cũng chẳng ngại ngần.
Mới đây, trong khu vườn của ngôi nhà rường cổ vốn là nơi ngày xưa Cẩn thường đến để nghỉ ngơi thư giãn thuở hoàng kim, nay thuộc sở hữu của vợ chồng ông bà Lê Đình Sự và Lê Thị Oanh có một cây sanh với dáng thế cực kỳ đặc sắc. Gia chủ kể rằng, đây là cây sanh của ông Cẩn đã trồng lúc sinh thời và hòn non bộ nơi đặt cây sanh cũng là một tác phẩm nghệ thuật do chính tay “bạo chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn dựng nên. Chính vì yếu tố lịch sử ấy mà ngày ngày dân chơi cây cảnh vẫn thường ghé qua để kỳ nèo gia đình ông Sự bà Oanh để được mua cây sanh của ông Cẩn.
Ông Sự kể rằng, khách đến hỏi mua cây sanh này ở khắp mọi nơi, có người trong Nam, kẻ ngoài Bắc, có người khi đến hỏi mua cây sanh còn mang theo cả chuyên gia giám định thế cây, dáng cây, rễ cây và tuổi đời của cây. Lúc cao điểm nhất, có người đã trả giá cây sanh cùng với căn nhà cấp 4 tuềnh toàng của vợ chồng ông với giá 14 tỉ đồng thời giá bây giờ. Thế nhưng, ông Sự nói, gia cảnh của tôi bây giờ không lấy gì làm khấm khá, nhưng cây sanh này đã cùng với gia đình tôi buồn vui mấy chục năm trời nên không thể bán nó đi được.
Bà Oanh nói thêm, thôi thì ở đời giàu nghèo cũng là phận số, sau này vợ chồng tôi có qua đời thì tôi tin các con tôi sẽ theo truyền thống gia đình mà chăm nom cây cối trong vườn như chúng tôi đã từng làm trước đó mà thôi…
Về chuyện chiếu chăn, giới tính, Cẩn cũng là một gã quái nhân, những người thân cận, gia nô trong nhà kể rằng, Cẩn là người rất ghét loại con gái nhan sắc, õng a õng ẹo nhưng lại rất ngây ngô chưa biết mùi đời, chưa thông thạo chuyện trai gái gối chăn. Cẩn chỉ đặc biệt thích những người đàn bà luống tuổi, đã có chồng với một hai đứa con, to khỏe, mắt sắc, lông mày rậm, mông nở, rành rẽ chuyện sinh hoạt tình dục. Mỗi khi tìm được hạng người như thế, Cẩn lại kéo ra vườn để “cùng nhau quằn quại” trên những đống rơm cho đến khi chân chồn gối mỏi. Nhưng với Cẩn, chuyện trai gái chỉ đến thế thôi vì Cẩn rất lạ là không thích trói buộc cuộc đời của mình với bất cứ một người đàn bà nào cả…?
Cho đến bây giờ người dân xứ Huế vẫn còn kể cho nhau nghe câu chuyện tình vô luân giữa Ngô Đình Cẩn với một cô gái tên là Thanh Hoàng, con gái của một phú gia giàu có ở thôn Vĩ Dạ. Thanh Hoàng là vợ của một người được cho là con rơi của Ngô Đình Cẩn, sau khi cô này ăn ở với chồng có đến 2 mặt con thì nhân một buổi cô này đến nhà của Cẩn có việc. Nhìn thấy vẻ đẫy đà của Thanh Hoàng, Cẩn đem lòng si mê rồi cho bắt luôn đến ở nhà mình để “phục vụ”.
Để cho sự gần gũi với Thanh Hoàng không bị người chồng cản trở, Cẩn đã bằng mọi cách đưa chồng của Thanh Hoàng sang làm việc ở sứ quán VNCH ở châu Âu. Sau mỗi lần bị “bạo chúa miền Trung” ép phải làm chuyện mây mưa đã khiến cho cô gái vốn xuất thân trong một gia đình trâm anh thế phiệt vô cùng tủi hổ, nên đã đôi lần định trầm mình xuống dòng sông An Cựu để quyên sinh.
Biết được, Cẩn đã ngăn chặn và hăm dọa “nếu Hoàng mà tự tử thì ta cũng buồn rầu mà chết, nhưng trước khi chết thì ta giết chết hết cha mẹ và anh em của Hoàng đã…”. Vì thế mà Thanh Hoàng phải ngậm đắng nuốt cay hầu hạ những thú vui xác thịt quỷ quái của Ngô Đình Cẩn. Thấy người đẹp âu sầu, Cẩn hạ lệnh cho bọn tay chân cất một tư dinh để nghỉ mát ở vùng Tân Mỹ sát cửa biển Thuận An và một tư dinh ở trên đỉnh núi Bạch Mã để đưa Thanh Hoàng tới đó hú hí…cho thỏa thuê dục vọng đê hèn.
Biết tỏng rằng Cẩn là thằng em trai ngổ ngáo, bất trị, ham chơi, chẳng chịu học hành, nên mỗi khi các anh của Út Cẩn về thăm mẹ già thường hay khuyên răn Cẩn bớt chơi bời mà phải lo học hành để kiếm chút chữ nghĩa lận lưng sau này mới mong khấm khá. Mỗi lần như thế, Cẩn chỉ cười gằn rồi đánh trống lảng sang chuyện khác, rồi tìm cách xăm xê đến bên mẹ già . Bà Anna Phạm Thị Thân là chỗ dựa hiếu đễ che chắn cho Cẩn trước uy thế của các anh, nên mỗi khi như thế, Cẩn có cớ để kể công với mọi người trong gia đình: “Các anh đi hết. Tui phải lo thờ tự, chăm sóc mợ, thời gian, tiền bạc mô mà học. Nhà ni có mấy anh học cao là đủ. Tui như ri là được rồi. Tui có muốn làm quan mô…”.
Nhắc nhở đến thằng em ngang tàng như Cẩn thì đến mấy ông như ông Thục, ông Diệm, ông Nhu đều cùng chung một nỗi bực mình, nhưng cũng phải nhắc vì đó là bổn phận làm anh trong gia đình của họ. Cứ mỗi lần về thăm, mấy người anh dặn dò Út Cẩn phải chăm lo hương hỏa đôi điều, rồi họ lại lên đường ra đi biền biệt, mỗi người theo một chí hướng, một con đường riêng… Vì sau khi ông Khả qua đời một thời gian dài, cả gia tộc họ Ngô ở Phủ Cam lâm vào cảnh khó khăn về kinh tế, thất sủng về chính trị, khổ sở trên con đường công danh sự nghiệp…
(Còn nữa)

Chân tướng tàn độc của “bạo chúa miền Trung” Ngô Đình Cẩn

Ngày ngày, Cẩn vận áo bà ba lụa trắng, chân đi guốc mộc, miệng bỏm bẻm nhai trầu, luôn mồm ra lệnh để sai khiến người hầu, kẻ hạ…
Con đường chạy ngang từ bờ sông An Cựu dẫn lối lên nhà thờ chánh tòa của họ đạo Phủ Cam đã rất nhiều năm lặng lẽ, náu mình trong tiếng chuông rung và lời cầu kinh của những con chiên ngoan của Chúa. Bỗng một ngày trở nên nhộn nhịp đến lạ thường, ngay cả những giáo dân đi lễ nhà thờ lệ thường vẫn khép nép, nay khuôn mặt nào cũng trở nên rạng rỡ, họ nhanh chóng truyền tai nhau cái tin Hoàng đế Bảo Đại đã ban hành quyết định thuận tình đưa Ngô Đình Diệm trở về Việt Nam để làm Thủ tướng. Người ta nhìn thấy lối vào nhà của “mệ cố” Anna Phạm Thị Thân và đứa con trai mê cờ bạc, đá gà, câu cá… trở nên tấp nập người ra, kẻ vào.
Những kẻ thức thời đó không ai khác là các nhân vật tham gia đảng phái chính trị, những sĩ quan quân đội, cảnh sát quốc gia và cả những kẻ từng có quá khứ theo Việt Minh để tham gia kháng chiến nay vì không vượt qua được những cám dỗ đời thường nên “dinh tê” về thành để đầu hàng theo địch… tất cả những con người “xôi thịt” ấy đều khúm núm đến gõ cửa căn nhà rường cổ để vái chào Út Cẩn.
Những ngày sau khi ông anh Ngô Đình Diệm được về nước nắm quyền, cũng là lúc ở miền Trung, Cẩn biểu lộ một cách rõ nét sự trịch thượng, khinh người của một gã trọc phú mang dáng dấp của một phú nông hách dịch ở một số làng quê thời phong kiến. Ngày ngày, Cẩn vận áo bà ba lụa trắng, chân đi guốc mộc, miệng bỏm bẻm nhai trầu, luôn mồm ra lệnh để sai khiến người hầu, kẻ hạ… Cứ mỗi lúc cần đến ai đó là ngay lập tức, Cẩn cầm chiếc chuông nhỏ trên tay để rung rung làm hiệu. Rủi cho gia nô nào mà không đáp ứng kịp yêu cầu của Cẩn là cầm chắc bị nhiếc mắng thậm tệ hoặc là đánh đập đến khi nào thấy máu chảy mới chịu buông tay…

Anh em Ngô Đình Cẩn trong ngày mừng thọ bà Anna Phạm Thị Thân.
Nhiều bậc cao niên am tường về gia đình họ Ngô Đình ở Huế đã nói rằng: Sở dĩ sau khi nắm quyền hành trong tay, ông Cẩn thường có lối sống ngạo mạn, khinh khi với mọi người là vì những tháng năm trước đó, ở Huế không mấy ai thiện cảm với gia đình ông. Những người sống xung quanh nhà thờ chánh tòa Phủ Cam vẫn kể với nhau rằng: Khi ông Ngô Đình Khả bị triều đình An Nam bãi chức. Ông Khả thường mặc đồ màu nâu, quần ống cao, ống thấp, chân đi guốc gỗ và thường đến ngồi trước sân nhà thờ Phủ Cam, miệng lẩm bẩm chửi bới đích danh các vị quan lớn đương triều… Và họ cho rằng, cách hành xử của ông Khả là “thái độ hằn học một cách sống sượng với các vị đại thần, việc làm này biểu thị thái độ căm thù vì quyền lợi bị mất mát, con đường hoạn lộ bị bế tắc…”.
Người con trai cả của gia đình ông Khả là Ngô Đình Khôi, khi đương chức Tổng đốc tỉnh Quảng Nam – một tỉnh lớn thứ hai của triều đình An Nam và của xứ Trung Kỳ cũng là một ông quan ô lại và có tác phong bê bối. Nhiều câu chuyện ông Khôi tằng tịu với vợ con của thuộc cấp và ăn hối lộ kể cả những đồng tiền rất nhỏ, cho đến bây giờ vẫn còn nhiều người nhắc đến…
Thời bấy giờ, những dòng họ có người làm quan to ở Huế như họ Phạm, họ Võ, họ Thân Trọng, Hồ Đắc, Trương Như, Nguyễn Khoa, Tôn Thất… đều coi anh em nhà họ Ngô Đình như người xa lạ, nếu không muốn nói là như kẻ thù. Sở dĩ có tình trạng đó là vì dòng họ Ngô Đình vừa theo đạo Thiên Chúa vừa không xuất thân từ hàng khoa giáp, không có trình độ học vấn cao mà chỉ dựa vào thế lực của các cố đạo và các quan cai trị Pháp để được thăng quan tiến chức một cách mau lẹ…
Vậy là chỉ sau một đêm ngủ dậy, từ một cậu ấm con của ông quan đại thần bị bãi chức, ngày ngày chỉ biết câu cá, đá gà, gái trai, cờ bạc, cây cảnh, chim muông… đã trở thành “ông cậu” – một nhân vật quan trọng bậc nhất trong dòng họ Ngô Đình có mặt ở miền Trung mà hầu hết những người đang sinh sống, làm việc, kinh doanh… trên miền đất ấy đều phải nể sợ. Núp bóng dưới uy quyền của ông anh làm thủ tướng, Cẩn là một kẻ xu thời nên thay đổi khá nhanh, kiểu hống hách của một kẻ có người nhà đứng đầu thiên hạ. Tuy nhiên, cũng không dễ một sớm một chiều mà có thể lột xác được hoàn toàn cung cách và bản chất của một kẻ quê mùa, bặm trợn ấy.
Sau khi ông Diệm nắm quyền, ngôi nhà ở dốc Phủ Cam, nơi Ngô Đình Cẩn đang phụng dưỡng mẹ già được nhà cầm quyền biệt phái đến một tiểu đội lính bảo vệ do đại úy Tôn Thất Độ, người ở xã Hương Hồ, huyện Hương Trà làm chỉ huy. Những sĩ quan và hạ sĩ quan trong tiểu đội này có nhiệm vụ phục dịch trong nhà, làm công tác vệ sinh, chăm lo cây cảnh, chim chóc, đặc biệt là còn phụ trách luôn công việc đồng áng, mùa màng cho mấy mẫu ruộng ở vùng An Cựu và vùng ven của các lăng vua Nguyễn.
Sau này, có một người từng là lính trong tiểu đội biệt phái bảo vệ gia đình Ngô Đình Cẩn kể lại: Mặc dù trong nhà ông Cẩn, tiền bạc châu báu chất chồng nhưng ông Cẩn vẫn lưu cữu cái tính keo kiệt, bủn xỉn như thuở  hàn vi. Vì lẽ đó mà những quân nhân trong tiểu đội biệt phái bảo vệ gia đình ông Cẩn hàng tháng phải chung tiền nhau lại để mua chổi, bóng đèn, vòi nước, gạch đá, dụng cụ làm vườn và rất nhiều thứ gia dụng linh tinh khác… vì đã có lần họ xin ông Cẩn cấp ngân khoản để bảo trì hàng tháng, nhưng đã bị ông ta mắng chửi rất thậm tệ và còn dọa đuổi khỏi đơn vị tác chiến…
Bên cạnh những quân nhân bị đối xử chẳng khác nào những gia nô khác, ông Cẩn còn có một văn phòng quân chính (quân sự và chính trị) do đại úy Minh (một người Công giáo di cư) làm chánh văn phòng để lo việc giấy tờ, thư tín và liên lạc với những người ở bên ngoài.
Giai đoạn này, hàng ngày Cẩn chỉ việc ngồi ở nhà ăn trầu, uống rượu, nhận quà đút lót và tiếp chuyện bọn xu nịnh, bọn đến nhỏ to hiến kế cơ hội để hoạt động, bọn chạy chức, chạy quyền, mua quan bán tước… những cuộc tiếp xúc, giao kèo ấy cũng giúp Cẩn kiếm được tiền, tuy rằng nó vẫn mang tính chất người ta đến với thế lực  hậu trường của ông anh thủ tướng. Thông qua sự ngọt nhạt của đám chầu rìa xu nịnh, dần dần Cẩn cũng cảm thấy thích thú và cần thiết phải có thực quyền riêng. Cẩn biết, để khuynh đảo được mọi chuyện ở miền Trung, chẳng còn cách nào khác hơn là Cẩn phải có một vị trí quyền lực chính danh trong bộ máy cai trị của ông anh Ngô Đình Diệm.
Từ đó, Cẩn mới tạo dựng vây cánh xung quanh mình, để làm việc cho mình. Nghĩ là làm, Cẩn lập ngay một dự án tổ chức hoạt động của phe nhóm chính trị, mà thực chất là tổ chức mật vụ trá hình dưới một chức danh do Cẩn đứng đầu “Cố vấn chỉ đạo các đoàn thể cách mạng trong và ngoài nước: “để đệ trình lên hai ông anh trai mình là Thủ tướng Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu. Khi hồ sơ, dự án này được gửi vào Sài Gòn để chờ đợi sự đồng ý của hai ông anh trai, thì tại Huế, Cẩn ráo riết thiết lập bộ máy hoạt động riêng không dính líu đến các tổ chức định chế của chính quyền Sài Gòn ở Thừa Thiên và Trung phần.
Bộ máy mật vụ của Cẩn gồm những tên giang hồ, dao búa, những tên sĩ quan khét tiếng gian ác, những phần tử “dinh tê” phản bội cách mạng kháng chiến và cả những kẻ môi giới chính trị… tất thảy kết thành một lực lượng vũ trang trá hình đặc biệt, liên tục tiến hành các hoạt động bắt bớ, thủ tiêu những người Cộng sản, những nhà yêu nước và bất cứ ai dám đối đầu với Ngô Đình Cẩn.
Một mặt, Cẩn cho đám tay chân thân tín rêu rao, tuyên truyền: “Ông cậu có mệnh đế vương. Triển vọng không làm được quốc trưởng thì cũng làm tổng thống sau khi ông Diệm hết nhiệm kỳ”. Cẩn rất khao khát được ông anh thủ tướng thuận tình bổ nhiệm cho cái chức “Cố vấn chỉ đạo các đoàn thể chính trị trong và ngoài nước”. Vì chỉ có địa vị của tổ chức ấy mới tạo cho Cẩn một hậu thuẫn vững vàng.
Quyền hành ấy cho phép Cẩn được ban ơn cho bọn tay chân, để chúng hoạt động một cách đắc lực và trung thành, gây ảnh hưởng thanh thế cho Cẩn. Hơn thế, Cẩn cũng nắm được một lực lượng hậu thuẫn đủ mạnh để đối mặt với những khó khăn có thể xảy ra, và một khi Diệm không còn nữa, thì Cẩn sẽ đủ thế lực để ra tranh cử chức vị tổng thống.
Vì Cẩn có công chăm nuôi mẹ già, hương khói cho cha và giữ nhà thờ hương hỏa nên từ giám mục Ngô Đình Thục, tổng thống Diệm, cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu và vợ là Trần Lệ Xuân cũng đều phải “nể mặt” cưng chiều đôi chút như hồi Út Cẩn còn hàn vi. Chính vì sự cưng chiều đó mà cả Diệm và Nhu đều phải giả câm, giả điếc, mặc cho đứa em ngỗ ngược của mình làm mưa, làm gió, thao túng, đọa đày dân chúng ở miền Trung…
Cẩn cậy thế nuôi mẹ và được bà Anna Phạm Thị Thân hết mực thương yêu. Sau khi ông Diệm ngồi vào ghế tổng thống VNCH… thì Phủ tổng thống nhận ngay được một bức điện tín khẩn được gửi đi từ Huế. Bức điện có nội dung: “Mợ đau thập tử nhất sinh, e không thể qua khỏi mấy ngày nữa…”.
Tin điện khẩn cấp ấy đã khiến ông Diệm phải bỏ dở công việc ở Sài Gòn để bay về Huế thăm mẹ. Khi Diệm đi chuyến phi cơ đặc biệt đến sân bay Phú Bài, thằng em ma mãnh không chịu ra đón như bọn tay chân, việc này làm Diệm trên đường từ sân bay về nhà ở dốc Phủ Cam rất lo lắng. Khi xe về đến cổng nhà, Diệm lại càng lo hơn khi không thấy ai ra đón, cánh cổng chính vẫn đóng im lìm.
Trong khi Diệm chưa biết xử trí thế nào thì Cẩn đã cho người ra nói với Diệm: “Ông cậu cho hỏi, cụ về đây với tư cách tổng thống đi kinh lý, hay là con trai về thăm mẹ, nếu là con về thăm mẹ thì đừng bắt phải mở cửa chính ra đón tiếp”. Nghe xong, Diệm tức đến trào nước mắt, nhưng sau khi trấn tĩnh lại, ông ta vẫn theo người nhà đi đường cửa phụ để vào bên trong, đến bên giường bà Thân đang nằm để vấn an. Lúc đó, bà Thân đã nói với Diệm bằng những lời trách móc nhẹ nhàng: “Bấy lâu anh bôn ba, chỉ có thằng út ở nhà với mợ. Khổ sở lắm. Mợ thương thằng út thiệt thòi, mà con không nâng đỡ nó làm mợ tủi buồn”. Diệm ngớ người nói với mẹ: “Thưa mợ! con có mần chi hắn mô?”.
Bà Thân lại thở dài: “Con bây chừ quyền cao tột bực, con cần phải lo cho các em, mà nhất là thằng Cẩn. Nó ít học nhưng có hiếu với mợ lắm. Mợ chỉ mong con đừng làm chi cho em phải buồn phiền”. Nghe mẹ trách móc những chuyện liên quan đến Cẩn. Diệm chợt nhớ đến bức thư cùng dự án hoạt động của “Cố vấn chỉ đạo các đoàn thể chính trị trong và ngoài nước” nên thở dài thưa với bà Thân: “Con xin vâng lời mợ, con xin để Út Cẩn làm “cố vấn chỉ đạo miền Trung”. Nói xong, Diệm cúi đầu chào mẹ rồi trở lại Sài Gòn ngay trong hôm ấy.
Lúc còn lép vế, suốt ngày thui thủi bên mẹ già, Cẩn hay bị người đời khinh miệt, nên găm lòng căm giận thề sẽ trả thù, thậm chí Cẩn từng tuyên bố “mai sau nếu có quyền sẽ “thịt” ngay bất cứ ai dám coi thường Cẩn”. Vì lẽ đó mà chỉ một thời gian ngắn sau khi được dựa thế cầm quyền của anh trai Ngô Đình Diệm. Ở Trung phần, Cẩn đã nổi tiếng tàn bạo với các cuộc thanh trừng những người vốn trước đây có hiềm khích với Cẩn.
Khi Cẩn ra tay, tất nhiên những con người xấu số đó một là phải chết, hai là phải sụp lạy dưới chân Cẩn để quy hàng, ví như dược sĩ Nguyễn Cao Thăng, người Quảng Trị, Giám đốc Hãng thuốc O.P.V. Với lý do trước đó, Thăng là bạn thân của kẻ thù Ngô Đình Cẩn, đồng thời khi Cẩn còn lận đận, Thăng từng chê bai Cẩn là “hạng nhai trầu, dựa thế tên tuổi cha anh mà làm tàng, hàng chánh tổng cày ruộng làm sao đòi lên làm lãnh tụ…”.
Thâm thù như thế, nên khi có quyền trong tay, Cẩn quyết phải trừng trị Thăng bằng mọi giá. Cẩn ra lệnh cho đám thuộc hạ gồm Lê Quang Tung, Trần Thái (Thái Đen) ném lựu đạn vào tiệm thuốc Trường Tiền nằm trên đường Trần Hưng Đạo – Huế của dược sĩ Thăng. Bị khủng bố, Thăng quá lo sợ, đành phải nhờ người có thế lực môi giới để đến yết kiến với “cậu Cẩn” nhằm mục đích xin tạ tội và quy hàng. Lễ ra mắt là 200.000 đồng bạc, đồng thời Thăng tình nguyện lo việc kinh tài cho Ngô Đình Cẩn để chuộc lại cái tội “nhỡ hỗn láo với ông cậu trước đây”. Sau buổi ra mắt ấy, nhà thuốc Trường Tiền của dược sĩ Thăng được chuyển giao cho người của Cẩn quản lý, còn Thăng thì vào Sài Gòn để tiếp xúc với vợ chồng Ngô Đình Nhu theo sự giới thiệu của Cẩn.
Sau chuyến Nam du ấy, Thăng được chỉ huy ngành xuất nhập cảng thuốc Tây để lo chuyện kinh tài cho anh em họ Ngô. Ít lâu sau, Thăng trở thành một dân biểu tích cực của chế độ Diệm. Sau này, khi gia đình trị họ Ngô bị trừng phạt, Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống chính quyền Sài Gòn, Thăng vẫn được trọng dụng làm cố vấn kinh tài và tích cực xây dựng một quốc hội bù nhìn cho Nguyễn Văn Thiệu. Tuy nhiên, trong lúc ông Thăng đang hăng hái hoạt động thì bị mắc chứng bệnh ung thư mà chết.
Có thể nói rằng, Cẩn là một con người có máu lạnh của một tên đồ tể, vì khi đã trừng phạt thì không bao giờ khoan nhượng một ai. Cũng vì vậy mà cái hỗn danh “bạo chúa miền Trung” trong một thời gian ngắn đã vang xa đến tận nhiều nơi ở vùng Trung phần nghèo khó.
(BANTG)

Tội ác tày trời của "bạo chúa miền Trung" Ngô Đình Cẩn

Thời đó có bài "Vịnh chuồng cọp" để ám chỉ "bạo chúa miền Trung" Ngô Đình Cẩn: "...Một kiếp tàn hung hùm xám đó/ Muôn dân ghê rợn ác ôn này". 
Thủ đoạn lập dự án tổ chức hoạt động tại Trung phần và Cao nguyên của Ngô Đình Cẩn cũng đã toại nguyện. Vì vậy mà nhiều người nhìn thấy Cẩn vui và ra chiều hoan hỉ lắm. Cẩn đã hạ lệnh cho đám tay chân tổ chức yến tiệc, chụm đầu với đám thuộc hạ thân tín để bàn mưu tính kế cho bước đường hoạt động tiếp theo, vẽ bản đồ để mở rộng địa bàn cai trị, và cũng từ đây, vai trò "cố vấn tối cao tại miền Trung" của Cẩn bắt đầu phủ trùm lên tất cả các cơ quan, đoàn thể đóng trên dải đất miền Trung khắc nghiệt với vô vàn tội ác dã man.

Với tư cách là "Bạo chúa miền Trung", Cẩn sở hữu trong tay quân đội, cảnh sát, mật vụ, vũ khí, nhà giam, văn phòng, trụ sở… Bên cạnh "ông cố vấn" còn có cả bộ máy chính trị của đảng Cần Lao miền Trung do Cẩn làm thủ lĩnh. Tất cả bộ máy và sự hoạt động ở khu vực Trung phần này đều nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền Sài Gòn và Cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu.

Cẩn đã sử dụng rất nhiều tên lưu manh, gian ác để làm việc trong hệ thống mật vụ của mình. Bọn này theo lệnh Cẩn có thể theo dõi tất cả mọi người, mọi giới, mọi ngành kể cả đó là tướng tá đương chức của quân đội hay cảnh sát quốc gia… Những tên mật vụ này đã cậy thế của Cẩn để thỏa sức thực hiện chuyện khủng bố, ám sát, bắt bớ, cưỡng đoạt tài sản của bất cứ người dân nào mà chúng muốn.

Đối với người dân sinh sống trong vùng từ bờ Nam sông Bến Hải (Vĩ tuyến 17) vào cho đến Rừng Lá (Bình Thuận) đều phải chịu sự cai trị và dòm ngó của Cẩn. Đối với các hạng công chức từ tỉnh trưởng, quận trưởng, cho đến trưởng nha, trưởng ty, trưởng phòng… Ngô Đình Cẩn đều có quyền lựa chọn, cất nhắc hoặc là bãi miễn mà không cần xem xét đến tài năng, quá trình cống hiến, đảng phái chính trị hay tôn giáo đang tham gia mà chỉ dựa vào mức độ tình cảm, của cải đút lót, những người bà con cùng họ đạo ở giáo xứ Phủ Cam, gia đình và những ai khôn khéo luồn lách để lấy được thiện cảm và tình thương của "ông cậu".

Rên xiết trước những hành vi bạo ngược và hành động bạo tàn của "Bạo chúa miền Trung" Ngô Đình Cẩn, đương thời, đã có rất nhiều người dùng các loại hình nghệ thuật truyền miệng để đả kích, trong đó có bài "Vịnh chuồng cọp" để ám chỉ "ông cậu" như sau: "Kìa xem chú cọp vẻ vang thay/ Sảnh rộng thềm cao ngự bấy nay/ Một kiếp tàn hung hùm xám đó/ Muôn dân ghê rợn ác ôn này/ Chầu hầu bao kẻ khôn gần mặt/ Thăm viếng nào ai dám bắt tay/ Mưa gió lầm than đâu đấy mặc/ Phòng riêng mộng ấm, tháng năm chày"…

Ngoài những việc làm ác nhân, thất đức, những thủ đoạn hết sức nham hiểm của Cẩn cùng bọn chó săn, mật vụ ở Trung phần và Cao nguyên, lúc bấy giờ, có không ít người còn phải rên xiết trước sự tàn độc của một người đàn bà thường hay xuất hiện bên cạnh "Bạo chúa miền Trung" Ngô Đình Cẩn. Người đàn bà đó tên là Nguyễn Thị Sách (những người trong gia đình Cẩn thường gọi là Bạch - NV) nhưng người dân xứ Huế thì gọi bà ta bằng một cái tên khác là Luyến.

Luyến là con gái của bà Phạm Thị Bích (chị ruột bà Phạm Thị Thân - tức là chị con bà dì ruột của anh em Diệm). Nguyễn Thị Sách có chồng là ông Nguyễn Văn Luyến, một người đàn ông xấu trai, khuôn mặt có phần ngờ nghệch với môi dưới chìa ra. Người đời kể lại rằng, ông Luyến là người biết an phận thủ thường nên rất hiền lành, chất phác. Ông này làm nghề đi bỏ rượu lẻ cho hàng quán trong vùng để kiếm hoa hồng sinh sống, nuôi con. Vợ chồng ông Luyến có với nhau 3 đứa con, được đặt tên thứ tự là: Ngãi, Ái, Tình.

Có chồng, có con, nhưng phần lớn thời gian bà ta lại sinh sống trong nhà Ngô Đình Cẩn. Vì có quan hệ chị em bạn dì, nên từ những năm tháng anh em nhà họ Ngô Đình còn chạy đôn, chạy đáo chờ thời, Út Cẩn còn say đá gà, câu cá, thì Luyến đã đến ở trong nhà Cẩn để làm người quản gia.

 Nguyễn Thị Sách (Ảnh chụp năm 1988 tại Sài Gòn).
Theo như lời thuật lại của ông Đỗ Mậu - một con người đầy duyên nợ với gia đình họ Ngô thì lúc xưa Luyến chỉ là một người đàn bà nghèo hèn, quê mùa, lam lũ, quanh năm suốt tháng chỉ đi chân đất, trên mình chỉ vận áo nâu với quần đen, lủi thủi ra vào dưới mái nhà quạnh quẽ để hầu hạ bà dì ruột của mình là "mệ cố" Phạm Thị Thân - người đã sinh ra anh em Ngô Đình Cẩn. Ấy vậy mà, từ khi Ngô Đình Diệm có quyền, Cẩn trở thành "cố vấn đặc biệt ở miền Trung", thì người trong, kẻ ngoài ai cũng thấy được sự lột xác thay hình một cách trơ trẽn của bà ta.

Người đàn bà quê kệch ấy mới ngày một ngày hai đã sai bảo người này người kia trong nhà với giọng điệu của một kẻ ăn trên, ngồi trốc. Tuyệt nhiên dưới mái nhà nhiều năm hiu quạnh, bỗng một ngày trở thành dinh thự chốn công đường kia, ai cũng phải "thưa bà", "bẩm bà". Người ta cũng bắt đầu thấy bà ta ăn diện một cách kệch cỡm, chân đi guốc hoa, quần là áo lượt, trên người đủ loại vòng vàng, nhẫn ngọc…

Mặc dù Luyến không có bất cứ một chức tước nào nhưng vì sinh sống chung trong gia đình Ngô Đình Cẩn nên bà ta cũng nắm quyền sinh sát trong tay. Ai đó làm trái ý bà ta, chỉ cần bà ta ca thán với ông Cẩn là cầm chắc người ấy phải "lên bờ xuống ruộng". Vì lẽ đó mà lúc bấy giờ ở Trung phần và Cao nguyên, viên chức chính quyền, tướng tá quân đội, cảnh sát quốc gia… đều phải cung kính, xu nịnh và đút lót cho bà ta để mua lấy sự bình yên. Những việc làm và cách hành xử với mọi người xung quanh của bà ta ghê gớm đến mức mà người dân xứ Huế hồi ấy đã đặt cho bà ta cái hỗn danh là "Đệ nhất phu nhân cố vấn miền Trung".

Có một chuyện mà cho đến sau này vẫn có nhiều người không biết, đó là chuyện bà ta thường xuyên tằng tịu, ăn nằm với Ngô Đình Cẩn và kết quả của câu chuyện tình của hai chị em bạn dì ruột này là bà ta đã sinh ra 3 người con. Tất nhiên là cả 3 người con này đều phải lấy họ của ông chồng chính danh Nguyễn Văn Luyến để làm họ của mình.

Ba người con của Cẩn với chị em bạn dì là Nguyễn Thị Oai, Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Văn Liêm (Thanh và Liêm là hai anh em sinh đôi). Cả 3 người con này đều có khuôn mặt và dáng đi rất giống với Ngô Đình Cẩn. Vì vậy mà sau này, người nhà họ Nguyễn và họ Ngô vẫn thường cật vấn ông Luyến rằng: "Vì răng mấy đứa nhỏ giống Út Cẩn rứa?". Ông Luyến là một con người chất phác, thật thà, nên mỗi khi được hỏi, ông thường hồn nhiên trả lời: "Bao nhiêu năm ni mụ nớ (đó) có cho tui mần ăn chi mô mà bảo mấy đứa nớ giống tui…".

Nhiều người có thế lực ở Huế sau này kể lại rằng: Vì chuyện ăn nằm với Cẩn có đến 3 mặt con nên quyền hành của bà ta lúc bấy giờ không khác chi Cẩn. Luyến cũng là một con người đã gây ra không biết bao nhiêu điều đắng cay, chua xót cho người dân xứ Huế thông qua bàn tay của "Bạo chúa miền Trung". Trước những việc làm trái ngược đó, đương thời, người dân xứ Huế có mấy câu vè để nguyền rủa bà ta như sau: "Mụ Luyến, thằng Thuyết (một kẻ hầu hạ của Ngô Đình Cẩn), một lũ ác ôn/ Giết chết không hồn, ô hô thằng Cẩn/ Ngày tàn đến nơi không đất mà chôn”…

Theo nữ tu Trương Thị Lý và bà Nguyễn Thị Huê thì sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963, Luyến đã đưa các con của mình vào Sài Gòn sinh sống ở một con hẻm nhỏ nằm phía sau khu chợ Tân Định. Nguyễn Thị Oai nay đã chết, Nguyễn Văn Thanh đang định cư tại Hoa Kỳ, Nguyễn Văn Liêm vẫn sống ở phía sau chợ Tân Định. “Đệ nhất phu  nhân cố vấn miền Trung” chết năm 1996 tại nhà của Liêm.

Chuyện Ngô Đình Cẩn ăn nằm có con với Luyến không những bị bà con họ hàng bên ngoại, bên nội, dân họ đạo ở giáo xứ Phủ Cam bàn tán, chửi rủa mà ngay cả ông Ma Duyệt là một người đầy tớ lâu năm, hết mực trung thành với gia đình ông Ngô Đình Khả, một người rất ít nói chỉ biết cung cúc làm những công việc bổ cau, têm trầu, nấu nước chè xanh, chăm lo quét dọn bàn thờ, kị giỗ cho gia đình Cẩn, lo cơm nước mỗi khi Diệm về Huế thăm gia đình. Một con người như vậy mà cũng không thể im lặng trước những việc làm vô liêm sỉ của Cẩn và mụ Luyến. Ông Ma Duyệt đã đem chuyện hú hí của Cẩn với Luyến ngay trong nhà thờ ông Ngô Đình Khả để trình với cha xứ Phủ Cam. Chuyện này có người nghe được và tâu lại với Ngô Đình Cẩn và Luyến làm Cẩn điên tiết nổi đóa tam bành.

Cẩn đã triệu tập ngay tại nhà riêng một cuộc họp khẩn cấp gồm có ông tỉnh trưởng Thừa Thiên, thẩm phán, cảnh sát… để xử tử Ma Duyệt vì dám xúc phạm đến phẩm hạnh và uy danh của "ông cố vấn chính trị miền Trung". Thế nhưng, những thành viên tham gia cuộc họp ấy đã không tán thành vì họ không biết phải ghép tội thế nào cho ông Ma Duyệt. Tuy nhiên, sau cuộc họp ấy, Cẩn vẫn âm thầm ra lệnh cho thuộc hạ của mình thi hành bản án tử hình đối với Ma Duyệt.

Vào một buổi chiều xứ Huế sụt sùi mưa bay, Cẩn hạ lệnh cho tay chân bắt Ma Duyệt trói lại bỏ vào trong bao bố mang ra cầu Bạch Hổ thả xuống sông Hương. Nhưng ơn trời là số ông Ma Duyệt chưa chết, vì người thi hành việc thả Ma Duyệt xuống sông Hương cũng là một người tỏ tường mọi việc làm tày trời của Cẩn và Luyến, nên đã báo trước cho Ma Duyệt biết để lận theo trong mình một con dao sắc, khi bị thả xuống sông thì tìm cách rạch bao bố để thoát thân. Ma Duyệt thoát ra khỏi bao bố, lặn thật sâu, bơi qua phía bờ bên kia rồi tìm cách bí mật vào Sài Gòn để trình báo sự việc với những người trong gia đình ông Cẩn. Nghe xong, ông Diệm đã cho giữ Ma Duyệt lại để lo việc cơm nước trong dinh Tổng thống.

Sau này, khi anh em ông Diệm bị tướng Dương Văn Minh đảo chính. Ông Ma Duyệt đã tìm đường quay lại Huế và sống ở dốc Mân Côi gần nhà thờ chánh tòa Phủ Cam và chỉ cách ngôi nhà của Cẩn vài trăm mét. Sau năm 1975, Ma Duyệt đưa cả gia đình đi vùng kinh tế mới ở Buôn Ma Thuột để làm ăn, vài năm sau ông Duyệt bị bệnh và mất ở vùng đất cao nguyên này.
 Nhiều người dân bị tra xét để tống giam.
Đối với xã hội, Ngô Đình Cẩn xếp những gia đình có chồng, con, anh em đi tập kết hoặc lên chiến khu, những trí thức, văn nghệ sĩ, tăng ni phật tử, những người có tư duy tiến bộ chống lại sự hà khắc, vô nhân đạo của "bạo chúa miền Trung" vào diện "Cộng sản nằm vùng" cần phải xử lý triệt để. Có thể bị giết hoặc buộc phải ký giấy ly hôn và phải lấy người phía "quốc gia" hoặc bị giam cầm cho đến chết. Cẩn dùng chính sách khủng bố "tố Cộng", "diệt Cộng", với những khẩu hiệu thâm độc như "tát nước bắt cá", "khuấy nước đọng bùn".

Với chính sách này, suốt dải đất miền Trung đã có hàng nghìn người đã bị tay chân của Cẩn bắt giam hoặc giết hại. Riêng ở Thừa Thiên từ tháng 8/1954 đến tháng 10/1958, chúng đã mở 53.710 lớp học tố Cộng với 230.977 người tham gia học tập, mở 314 lớp chỉnh huấn, bắt 2.907 cán bộ đảng viên phải học tập, 3.658 cán bộ đảng viên bị tố giác và bị bắt. Đó là thời kỳ máu lửa "Chỉ trong 2 năm chúng đã triệt hạ gần hết cấp ủy Thừa Thiên Huế, ở Quảng Nam, Quảng Trị cán bộ bị bắt cũng rất nhiều… có những người sau khi bị bắt đã đầu hàng chuyển sang hợp tác với địch để chống lại phong trào cách mạng, vì vậy trong thời điểm này quần chúng hết sức hoang mang.

Những chiến sĩ cách mạng đấu tranh cho hòa bình, thống nhất nước nhà, những cán bộ cách mạng nằm vùng bám dân, những nhà hoạt động tình báo chiến lược… nếu chẳng may sa vào tay Ngô Đình Cẩn thì chắc chắn phải trải qua một cuộc hành trình đến với các lò tra tấn hết sức man rợ để chúng tra khảo, khai thác như: lao xá Ty Công an Thừa Thiên, lầu Hòa Bình, Trại Tòa Khâm, Trại Thừa Phủ, nhà giam của sở Vôi Long Thọ, Đồn Mang Cá nhỏ và cuối cùng là tử ngục Chín Hầm. 

Vì sao Diệm cho ném bom tàu chở tù ra Côn Đảo?

Với phi vụ mật ném bom tàu chở tù nhân, Diệm sẽ xóa sổ được những kẻ dám chống lại mình. Lòng biển sâu sẽ nhấn chìm bí mật tội ác ấy.
Sau sự kiện ám sát hụt Ngô Đình Diệm tại Hội chợ Kinh tế Thương mại Cao nguyên diễn ra tại Buôn Ma Thuột vào ngày 22/2/1957 khiến dư luận thế giới xôn xao, ông Hà Minh Trí bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa di lý về Sài Gòn biệt giam, tra tấn, khảo cung suốt 3 năm liền. Năm 1960, ông bị chính quyền nhà Ngô đẩy ra một phiên tòa gọi là "tòa án binh" xét xử bí mật. Kết thúc phiên tòa không án văn, ông bị kết án miệng: Tử hình.

Dù mang án tử nhưng ông không có số hiệu tử tội và cũng không bị hành quyết. Chính quyền Ngô Đình Diệm bí mật đưa ông lên một chuyến tàu chở tù ra Côn Đảo cùng với những tù nhân chính trị khác. Ít ai ngờ, trong hải trình của chuyến tàu đó đã xảy ra một chi tiết lịch sử chứng minh sự tàn độc vô bờ bến của anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Chuyến tàu đó có phiên hiệu là Hàn Giang 401 thuộc lực lượng Hải vận hạm Việt Nam Cộng hòa I.


Phiên tòa bí mật trong Văn phòng Tổng nha Cảnh sát

Theo luật Việt Nam Cộng hòa, tất cả những người tù đều phải có số "phích". Tử tù cũng không ngoại lệ. Thời Ngô Đình Diệm, hầu hết tử tù đều được đẩy ra Côn Đảo thi hành án tử, trừ những trường hợp mang tính răn đe cộng đồng.

Tuy cũng bày biện nhiều bộ luật nhưng Ngô Đình Diệm vẫn tổ chức nhiều cơ quan phi luật, trong đó có cơ quan mật vụ và những phiên tòa quân sự được gọi là "tòa án binh". Tòa án binh là một công cụ xét xử những tội danh dành cho giới quân nhân của chế độ. Đa phần những phiên tòa này không dựa trên nền tảng luật pháp công bố mà chỉ dựa vào cảm tính của hội đồng xét xử và có quyền giữ bí mật hoàn toàn.
 Mười Thương bị bắt sau phát súng ám sát Ngô Đình Diệm.
Một ngày cuối năm 1960, khi đang bị biệt giam, ông Hà Minh Trí (tức Anh hùng LLVTND Đại tá Phan Văn Điền - Mười Thương) bị đám cảnh sát dẫn giải đến văn phòng của Nguyễn Văn Hay - Phó Giám đốc Tổng nha Cảnh sát, phụ trách chính trị, tư tưởng, tòa án. Ông nhớ lại: "Khi tôi đến thì thấy có mặt đầy đủ bộ sậu của Tổng nha Cảnh sát gồm Đại tá Nguyễn Văn Y - Giám đốc Tổng nha Cảnh sát kiêm Đặc ủy trưởng Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo; Nguyễn Văn Hay; Bùi Văn Nhu - Phó giám đốc Tổng nha Cảnh sát phụ trách phản gián, ám sát tiêu diệt đối lập.

Ngoài ra còn có 2 người mặc sắc phục quân đội mà tôi không biết tên. Một người mang lon đại tá, một người mang lon thiếu tá. Viên đại tá cao ráo nhưng hói. Viên thiếu tá thì lùn tịt. Tất cả chúng đều mang gương mặt lạnh và khó hiểu. Cảnh sát áp giải đẩy tôi vào góc tường đứng đối diện dãy bàn chúng đang ngồi".

Sau này, ông Mười Thương mới biết viên đại tá tên là Khoa - Chánh án phiên tòa và viên thiếu tá lùn tên Đức - Công tố viên phiên tòa.

Ông vừa vào vị trí thì viên đại tá hỏi luôn:

- Tại sao anh giết Tổng thống?

- Ngô Đình Diệm là người tàn sát tôn giáo. Diệm bắt giáo chủ chúng tôi phải lưu vong ra nước ngoài. Diệm còn dụ dỗ tướng quân chúng tôi là Trình Minh Thế về với Quân đội quốc gia rồi ám sát. Vì vậy tôi phải "sát linh miêu cứu vạn thử".

- Sau khi hành động, biết Tổng thống không chết, anh có hối tiếc không?

Nghe câu hỏi này, ông Mười Thương ngờ ngợ đó là cái bẫy để buộc tội, ông cẩn thận trả lời:

- Kể từ ngày bị bắt cho đến 1 tháng, 3 ngày sau tôi bị tra tấn liên tục suốt ngày lẫn đêm nên không còn tâm trí suy nghĩ điều đó.

Cách trả lời của ông còn mang hàm ý buộc tội tra tấn, bức cung tù nhân của chúng.

Viên đại tá lại hỏi:

- Anh có vợ con chưa?

Tiếng trả lời "chưa" của ông vừa thoát khỏi miệng thì viên đại tá ra lệnh đưa ông trở lại phòng giam.

Phiên tòa đặc biệt chỉ xảy ra nhanh gọn như thế. Chánh án hỏi 3 câu là kết thúc phiên tòa, không tranh luận, bào chữa hay tuyên án gì cả.


Tử tù không số và hành vi lạ của chiếc phản lực cơ

Đầu tháng 10/1960, bọn chúng đưa ông Mười Thương sang khám Chí Hòa giam ở khu A 1 - Là nơi giam giữ tù nhân mang án đặc biệt từ chung thân đến tử hình. Ông bị giam ở dãy phòng tù nhân tử hình theo Luật 10/59 gồm 40 người và 1 tên cướp.

Ngày 5/10/1963, tù nhân Chí Hòa xôn xao vì có tin chuyển một số tù nhân "nguy hiểm đi đảo". Cai ngục tập hợp tù nhân ra sân điểm số những người đi đảo. Trong đó có đủ mặt 40 tù nhân tử hình theo Luật 10/59 và 1 tên cướp. Ông Mười Thương không có tên trong số này. Tuy vậy, chúng vẫn gọi ông ra.

Buổi chiều ngày đó, chiếc tàu vận tải hải quân mang mã hiệu Hàn Giang 401 rời bến Sài Gòn tiến ra biển Đông, nhắm hướng Côn Đảo trực chỉ. Trên chuyến tàu tù tội này có 400 tù nhân. Trong đó có 300 tù nhân Cộng sản. Tài liệu của Việt Nam Cộng hòa công bố có 216 người thuộc "phe Việt Nam Cộng hòa" đã từng tham gia đảo chính Diệm ngày 11/11/1960 và nhóm "nghị sĩ Caraven" như: Thiếu tá Phan Trọng Chinh, các nghị sĩ: Phan Khắc Sửu, bác sĩ Phan Quang Đán, Vũ Hồng Khanh...

 Tàu Hàn Giang 401 - Chiếc tàu tử thần chở tù ra Côn Đảo ngày 5/10/1963.
Khi lên tàu, nhóm tù thuộc "phe Việt Nam Cộng hòa" được các sĩ quan hải quân áp giải trọng đãi, cho lên boong ngắm trời mây. Khi tàu rời bến vài giờ, đang ở giữa biển khơi, đột ngột "phe Việt Nam Cộng hòa" phát hiện một chiếc máy bay Skyraider Buno số hiệu U-34565 (loại khu trục ném bom) xuất hiện ngay trên đầu đảo một vòng. Mọi người nói vui: "Diệm cho máy bay hộ tống tù nhân ra Côn Đảo". Bỗng chiếc máy bay bật đèn tín hiệu. Trên tàu có nhiều sĩ quan cao cấp "phe Việt Nam Cộng hòa" nhận ra, đó là tín hiệu ném bom. Mọi người đang lo lắng thì chiếc máy bay đảo 3 vòng để  "chào" rồi chuyển hướng về phía Campuchia bay mất dạng.

Khi tàu đến Côn Đảo, viên giám thị ra điểm số đón nhận tù nhân. Những tù nhân lần lượt được kêu số rời tàu. Ông Mười Thương là người cuối cùng còn lại trên tàu. Viên giám thị ngạc nhiên: "Ủa. Sao anh không có tên trong danh sách này?". Hắn chạy vô văn phòng chúa đảo, lát sau trở ra nói: “Thì ra anh là người dám bắn Tổng thống. Anh được dẫn giải bằng công điện chứ không có lệnh. Thôi, vô chuồng cọp".

Ông Mười Thương và những tù nhân trên chuyến tàu hải vận đặc biệt đó thắc mắc hoài về chuyện chiếc máy bay ném bom chào mình trên không nhưng không ai có lời giải chính xác.

Sự thật khủng khiếp về chuyến hải trình tử thần

Hơn một tháng sau, ngày 1/11/1963, Ngô Đình Diệm bị các quân nhân của ông ta đảo chính và giết chết. Chế độ Ngô Đình Diệm bị xóa sổ. Lúc 15h35 ngày 16/11/1963, sân bay Tân Sơn Nhất đón một chiếc máy bay từ Campuchia sang. Đó là chuyến bay chở những sĩ quan đã từng bị Diệm truy sát đào thoát sang Campuchia trở về. Trong đó có Đại úy Huỳnh Minh Đường - viên phi công lái chiếc máy bay Skyraider Buno số hiệu U-34565 bay "chào" những tù nhân trên chuyến tàu ra Côn Đảo ngày 5/10/1963.

Chính viên phi công này đã kể lại sự thật khủng khiếp về nhiệm vụ chuyến phi hành đó cho báo giới Sài Gòn. Thời điểm đó, do Sài Gòn liên tục xảy ra biến động chính trị nên câu chuyện của Đại úy Huỳnh Minh Đường chìm lỉm dưới hàng trăm tin tức sôi động khác.

Đại úy Không quân Huỳnh Minh Đường trước khi đào thoát sang Campuchia thuộc đơn vị Phi đội 514, Phi đoàn 1 Khu trục cơ cho biết, chiều ngày 5/10/1963, ông bất ngờ nhận 2 phong bì có đóng dấu tuyệt mật của Phủ Tổng thống. Một phong bì chứa mật lệnh thực hiện một phi vụ đặc biệt có chữ ký của Ngô Đình Nhu và Trần Kim Tuyến - Giám đốc Cơ quan Mật vụ có tên gọi là Sở Nghiên cứu Chính trị và Xã hội Phủ Tổng thống và 1 sự vụ lệnh đặc biệt để lực lượng Không quân trang bị một cơ số bom và cấp lệnh phi trình bay về hướng biển Đông.

Phong bì thứ 2 được chỉ thị là sau khi máy bay cất cánh mới được mở. Sau khi máy bay mang bom rời đường băng Tân Sơn Nhất, ông Đường nhận được lệnh của hoa tiêu mặt đất điều khiển bay yêu cầu chuyển tần số liên lạc sang Phủ Tổng thống. Mã tần số nằm trong phong bì thứ 2.

Khi kết nối vào tần số liên lạc đặc biệt của Phủ Tổng thống, ông Đường nhận được một chỉ thị lạnh lùng: "Ném bom đánh đắm chiếc vận tải hạm hải quân mang mã hiệu Hàn Giang 401 đang trên hải trình chở tù nhân chính trị chống đối chế độ đi Côn Đảo. Nếu hoàn thành nhiệm vụ sẽ được thưởng 1 triệu đồng và thăng hàm thiếu tá".

Viên đại úy phi công lạnh gáy khi nhận được chỉ thị này. Thời điểm đó, 1 triệu đồng là rất lớn nhưng lương tri của ông mạnh mẽ hơn. Ông quyết định không ném bom, bay chào mọi người rồi đào thoát sang Campuchia. Đến Campuchia, ông xin được đáp khẩn cấp tị nạn tại sân bay Pochentong cách thủ phủ Phnôm Pênh 15 km. Ông đã hội ngộ cùng nhóm sĩ quan lưu vong Nguyễn Chánh Thi tại đó.

Đến thời Nguyễn Khánh làm "chỉnh lý" chính trị Sài Gòn, ông Huỳnh Minh Đường bị loại ngũ về nhà bán bánh mì nuôi vợ con tại nhà riêng ở Ngã Năm Bình Hòa. Năm 1966, ông bị một kẻ lạ mặt bắn chết bằng súng ngắn có nòng giảm thanh tại xe bánh mì của mình nhưng cảnh sát không điều tra.

 Anh hùng Mười Thương đang chăm sóc phu nhân bị bán thân bất toại.
Dư luận cho rằng, ông Đường bị mật vụ của Nguyễn Cao Kỳ ám sát để bịt kín một sự thật nào đó có liên quan đến chuyến phi hành ném bom chiếc tàu Hàn Giang 401.

Vì sao Diệm cho máy bay ném bom?


Ngay sau khi chế độ Diệm bị xóa sổ, nhiều chính trị gia Sài Gòn vẫn bán tín bán nghi về chuyện Ngô Đình Nhu ra lệnh ném bom chiếc hải vận hạm 401. Họ cho rằng, với quyền lực phi hiến, phi pháp, Nhu có quyền ban lệnh những phiên tòa chính trị tuyên án tử hình rồi đem nạn nhân ra bắn công khai chứ hà cớ chi phải ra lệnh ném bom bí mật?

Xét lại những "phần tử" trên nhiệm vụ chuyến tàu đặc biệt đó ngoài những người Cộng sản còn có những chính trị gia và sĩ quan của Việt Nam Cộng hòa chống đối Diệm.

Những sĩ quan tham gia đảo chính Diệm ngày 11/11-1960 bị tòa án quân sự đặc biệt của Diệm xét xử vào ngày 5/7/1963 và nhóm chính trị gia đối lập bị xét xử ngày 8/7/1963 đều có mặt trên chuyến tàu đày ải đó.

Trong 2 phiên tòa đó, Ngô Đình Diệm đã mời Trung tá Lê Nguyên Phu - Ủy viên Chính phủ ngồi ghế hội thẩm và Đại tá Nguyễn Văn Mầu - Giám đốc Nha Hiến binh, cũng là hội thẩm vào Phủ Tổng thống. Diệm giả nhân giả nghĩa một hồi rồi dặn: "Dù chúng (tức những người chống đối) đáng chết nhưng hãy tạo cơ hội cho chúng. Người nào trốn thoát ra nước ngoài thì kêu án tử hình. Còn người nào có mặt thì gia giảm tội. Tôi không muốn tử hình ai hết".

Quả thật 2 phiên tòa ấy, chỉ có những người vắng mặt do đào thoát ra nước ngoài mới bị kêu án tử hình. Số chủ mưu còn lại đều bị đày ra Côn Đảo. Diệm - Nhu đã đi một nước cờ nhân nghĩa khiến Trung tá Lê Nguyên Phu và Đại tá Nguyễn Văn Mầu cảm động đến rơi nước mắt. Họ đã công khai kể chi tiết "gởi gắm nhân nghĩa" của Diệm với báo chí. Một số người đã ngợi khen Diệm sống chính trực, không thù oán cá nhân.

Tuy nhiên, với phi vụ mật ném bom chiếc tàu chở tù nhân, Diệm sẽ xóa sổ được những kẻ dám chống lại ông ta. Lòng biển sâu sẽ giữ bí mật tội ác đáng kinh tởm ấy. May thay, Đại úy Huỳnh Minh Đường đã phá vỡ âm mưu thâm độc của Diệm - Nhu.

Ông Mười Thương, người dám bắn trực diện vào Ngô Đình Diệm cũng có mặt trên chuyến tàu tử hình ấy. Lúc đó, chính quyền Diệm không biết ông Mười Thương là người của phe cách mạng. Họ chỉ nghĩ ông thuộc quân đội Cao Đài. Ông không cần "phát số" tử tù vì Ngô Đình Nhu đã xếp cho ông đi trên chuyến tàu định mệnh.